Trung tâm Năng suất Việt Nam
Đang tải dữ liệu...

  

Năng suất xanh và phát triển công đồng 2000 -2003

Sơ lược về dự án: Dự án được thực hiện tại 81 làng thuộc 21 tỉnh thành trong số 61 tỉnh thành của Việt Nam (Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh, Ninh Bình, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vĩnh Long, Vũng Tàu, Bến Tre và Cà Mau). Các làng tham gia dự án đại diện cho các khu vực khác nhau của Việt Nam (miền Bắc, miền Trung và miền Nam) với các điều kiện khác nhau như vùng núi, vùng đồng bằng, khu du lịch, bờ biển, vùng nông thôn, làng nghề truyền thống và dân tộc thiểu số.

Thời gian thực hiện dự án: 2 năm (2001 – 2003)

Tổ chức tài trợ dự án:

  • Tổ chức Năng suất Châu Á (APO)
  • Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (STAMEQ)

Mục đích của dự án: Đào tạo và phát triển nhóm NSX tại 81 cộng đồng của Việt Nam. Những nhóm NSX này sẽ chịu trách nhiệm thực hiện và phổ biến NSX

  • Xác định các giải pháp NSX tại các làng thông qua sự tham gia của cộng đồng.Thực hiện các giải pháp NSX để bảo vệ môi trường và tăng năng suất trong các cộng đồng và khu vực nông thôn.
  • Đào tạo bà con nông dân trong cộng đồng làm như thế nào để bảo vệ môi trường và tăng năng suất.
  • Phát triển mạng lưới chuyên gia, nhóm NSX.
  • Nâng cao nhận thức về môi trường trong phạm vi quốc gia.

Các kết quả đạt được: Chương trình Năng suất xanh đã đem lại những lợi ích to lớn cho người dân tại khu vực nông thôn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường. Thành tích đạt được của chương trình là những mô hình cụ thể đã và đang được nhân rộng như xây hầm Biogas, bếp tiết kiệm năng lượng, hố xí hợp vệ sinh, v..v và là những đóng góp tích cực trong việc nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của cộng đồng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và điều kiện môi trường tại chính cộng đồng của mình.

Các giải pháp GP đã giải quyết được các vấn đề như:

  • Người dân hiểu về phương pháp luận của GP và sử dụng phương pháp này để giải quyết các vấn đề hàng ngày tại cộng đồng.
  • Cung cấp nước sạch cho cộng đồng
  • Giảm sự ô nhiễm từ thuốc trừ sâu thông qua chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) và canh tác tự nhiên (NF).
  • Giảm thiểu ô nhiễm từ chất thải người và động vật bằng việc áp dụng bếp biogas, phân compôt.
  • Tăng thu nhập của người dân thông qua việc áp dụng các giải pháp GP như trồng nấm, phát triển nghề truyền thống…
  • Tiết kiệm năng lượng thông qua việc ứng dụng bếp tiết kiệm năng lượng, hầm biogas.
  • Phát triển rừng bền vững.

Đào tạo:

Việc đào tạo, tuyên truyền là một trong những biện pháp tích cực trong việc nâng cao nhận thức của người dân. Trong 3 giai đoạn dự án, hơn 300 khoá đào tạo đã được tổ chức với 12000 lượt người tham dự. Các khoá đào tạo đa dạng tuỳ thuộc vào vấn đề và giải pháp đề xuất tại địa phương; trong đó riêng khái niệm, nguyên lý và phương pháp NSX được đào tạo cơ bản tại tất cả các cộng đồng trên 21 tỉnh thành với 1857 người tham gia. Các khoá tập huấn như giống lúa mới và kỹ thuật chăm sóc gắn với bảo vệ môi trường thu hút được 1000 lượt người riêng tại Hải Dương; Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường tại Phú Hải – Huế thu hút được 200 học viên; Tập huấn về diệt trừ dịch hại tổng hợp IPM thu hút được 700 lượt người tại Hà Tĩnh, Hồ Chí Minh, Nghệ An, Phú Yên...

Thông qua các khoá đào tạo, người dân có cơ hội tiếp cận với các mô hình giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống và điều kiện môi trường tại địa phương. Những khoá đào tạo đầu tiên do chuyên gia của Tổ chức Năng suất Châu Á, Trung tâm Năng suất Việt Nam trực tiếp giảng dạy, rồi từ đó, chính những chuyên gia, các thành viên của Nhóm NSX địa phương phối hợp, nhân rộng và giám sát thực hiện ở các giai đoạn tiếp theo.

Giải pháp Năng suất xanh:

Dựa trên những vấn đề gặp phải tại địa phương, nhóm NSX đã xác định nguyên nhân của vấn đề và đề xuất những giải pháp NSX phù hợp với điều kiện thực tế. Những giải pháp phù hợp nhất xét về mặt kinh tế, xã hội, môi trường đã được lựa chọn để triển khai. Chẳng hạn các vấn đề trọng tâm của thôn Khả Lý Hạ (Bắc Giang); xóm Thành Lập (huyện Phổ Yên, Thái Nguyên); thôn Áp (Lục Ngạn), bản Lác (huyện Mai Châu, Hoà Bình)... là cung cấp nước sạch, thực hiện chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM, xây các hố thu gom rác, quản lý chất thải của người và động vật bằng mô hình xây hầm khí Biogas.

Trong khi đó, đối với những địa phương có số hộ nghèo cao, ngoài vấn đề về bảo vệ môi trường, các mô hình áp dụng còn chú trọng nâng cao thu nhập cho người dân. Áp dụng kỹ thuật lò sấy cải tiến tại thôn Mạn Đê (tỉnh Hải Dương) không những nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn giải quyết công ăn việc làm cho trên 1500 người dân các xã vùng lân cận, tăng thu nhập từ 300.000 đến 400.000đ/ tháng/ người. Mô hình trồng nấm tại Hoà Bình, Bắc Giang đã tạo ra trên 30 tấn nguyên liêụ mỗi nơi, tại Đà Nẵng và Vĩnh Long mô hình này cũng được đưa vào áp dụng dần. Mô hình nuôi ong hộ gia đình tại Đà Nẵng; mô hình trồng thí điểm các loại cây quý hiếm, nuôi chim bồ câu lai, nuôi ếch ở Phú Yên cũng đem đến cho người dân những nguồn thu nhập mới. Việc hướng dẫn cải tạo vườn ở Gia Lai, cải tạo chất lượng đàn bò ở Vũng Tàu; mô hình lúa cá lúa tôm, chăn nuôi heo ở Vĩnh Long, mô hình trong bắp cao sản ở Bến Tre cũng đang được áp dụng rộng rãi.

Trong lĩnh vực chất thải chăn nuôi, riêng tại Hải Dương đã xây dựng được 180 chuồng lợn theo quy hoạch; tại Kon Tum, 20 hộ gia đình đã xây dựng chuồng bò tập trung; tổng số lượng hầm Biogas tại Hải Dương, Thái Nguyên, Hoà Bình, Ninh Bình, Bắc Giang, Huế, Phú Yên, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh đã lên tới hơn 100 hầm, mô hình túi ủ Biogas bằng Nilông đã được áp dụng tại Vũng Tàu, Vĩnh Long, Quảng Nam, Cần Thơ (40 túi).

Trong lĩnh vực ô nhiễm do chất thải người, số lượng hố xí hợp vệ sinh được xây dựng là 507, góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm và tạo phong trào tự xây dựng cho người dân địa phương. Vấn đề nước sạch cho sinh hoạt với việc cải tạo các giếng nước sạch, xây dựng các hệ thống xử lý nước quy mô hộ gia đình... đã thành công tại Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Vĩnh Long... Việc áp dụng giống lúa mới ít sâu bệnh tại Bắc Giang, Vĩnh Long, áp dụng chế phẩm sinh học thay thế phân hóa học tại Hải Dương, áp dụng canh tác tự nhiên tại Hoà Bình, áp dụng mô hình sản xuất rau sạch tại Nghệ An... đã góp phần không nhỏ vào việc hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hoá học.

Bên cạnh đó, việc xây dựng Quy ước bảo vệ môi trường tại Hải Dương, Bắc Giang, Quảng Ninh, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Vĩnh Long; xây dựng mô hình điểm về phân loại rác, xây dựng thùng đựng rác tập trung, phát động phong trào tổng vệ sinh thôn làng vào dịp lễ, Tết cũng là những biện pháp thiết thực chống ô nhiễm môi trường do chất thải rắn không được quản lý hợp lý.

Áp dụng kỹ thuật mới, các phương thức nâng cao thu nhập, mức sống của người dân như đã đề cập ở trên là một trong những thành công phải kể đến của chương trình NSX. Trồng cây bóng mát, trồng cây chắn cát, xây dựng hệ thống đường bê tông nông thôn cũng góp phần tăng diện tích che phủ và cải thiện cơ sở hạ tầng tại các vùng nông thôn.

Qua 5 năm triển khai, chương trình Năng suất xanh đã minh chứng được những đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường ở nông thôn Việt Nam. Các giải pháp Năng suất xanh được thực hiện đa dạng tuỳ theo điều kiện của từng địa phương. Năng suất xanh đã đi vào cuộc sống của người dân và được xem là một biện pháp tích cực nhằm nâng cao năng suất, phát triển kinh tế xã hội theo định hướng phát triển bền vững.
Có thể nói, NSX thành công và được nhân rộng trên phạm vi cả nước là nhờ sự tham gia tích cực của chính các cộng đồng dân cư. Nếu như đã có lúc, môi trường là vấn đề của nhà nước, của Chính phủ, thì giờ đây bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống đã trở thành mối quan tâm, thể hiện quyền lợi của chính người dân. Sẽ không có NSX của “anh”, của “tôi”, mà là của tất cả người dân thực hiện. Vai trò làm chủ của người dân được nâng cao, ý thức về môi trường, ý thức tự chủ trong việc áp dụng các giải pháp NSX xuất phát từ chính nguyện vọng của người dân địa phương. Bên cạnh đó, áp dụng các giải pháp NSX thực sự giải quyết những lo lắng nảy sinh từ phương thức sản xuất hiện đại. Khi hiện tượng lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hoá học là mối lo ngại cho xã hội, giải pháp năng suất xanh như canh tác tự nhiên, trồng rau sạch... vừa tăng thu nhập cho người dân, vừa đem đến cái nhìn mới cho phương thức sản xuất cổ truyền.

Ngoài ra, sự thành công của chương trình Năng suất xanh cho cộng đồng tại Việt nam đã có được sự ủng hộ to lớn của các cơ quan quản lý các cấp như Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, một số Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn cũng như các cơ quan, viện nghiên cứu triển khai trong cả nước. Chương trình Năng suất xanh đã kết hợp các chương trình riêng lẻ khác như chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường, chương trình phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi, v..v . Thông qua đó, sự phối hợp giữa các ban ngành liên quan như Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, các hiệp hội, các đơn vị sự nghiệp khoa học tại địa phương và trung ương cũng được phát huy, tạo ảnh hưởng cho sự nhân rộng của phong trào. Hơn nữa, những bài học kinh nghiệm rút ra từ chương trình Năng suất xanh cho cộng đồng không chỉ giúp Việt nam trong việc thúc đẩy phong trào trên cả nước, mà còn giúp các nước thành viên của APO áp dụng Năng suất xanh trong cộng đồng nông thôn của họ, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong khu vực.

Tháng 8/2002, Việt nam đã phối hợp với tổ chức Năng suất châu Á tổ chức hội thảo chuyên đề: Những kinh nghiệm thành công trong chương trình Năng suất xanh – Phát triển cộng đồng của Việt nam tại hội nghị thượng đỉnh trái đất về phát triển bền vững tại Johannesburg (Nam Phi) với mục đích chia sẻ với thế giới những kinh nghiệm triển khai và quảng bá những thành công từ chương trình.