Giờ đây, dù những vấn đề trên vẫn còn rất quan trọng và nhiều doanh nghiệp vẫn đang vất vả để đáp ứng các yêu cầu đó, thì các vấn đề khác đã nhanh chóng trở nên ngày càng quan trọng. Các vấn đề này bao gồm cả các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội.
Có hai khía cạnh dẫn đến việc các nhà nhập khẩu quan tâm đến các vấn đề này:
Một mặt, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến cách thức mà sản phẩm họ sử dụng được sản xuất trong hoàn cảnh như thế nào. Trong thói quen tiêu dùng của mình, người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi phương tiện thông tin đại chúng và các nhóm hoạt động xã hội, những người đã phát hiện và chỉ ra các vấn đề cần quan tâm ví dụ như các điều kiện làm việc khắc nghiệt trong các nhà máy hoặc những tổn hại đến môi trường do việc quản lý không tốt những cơ sở sản xuất.
Mặt khác, các công ty ngày càng ý thức được trách nhiệm xã hội của mình. Các công ty đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm và thu nhập, tuy nhiên họ còn có trách nhiệm chăm sóc những người lao động và môi trường. Ngoài ra, ngày càng nhiều doanh nhân nhận ra rằng việc kinh doanh của họ chỉ có thể bền vững được-tức là họ chỉ có thể tạo ra được lợi nhuận về lâu về dài- nếu như họ chăm sóc tốt môi trường và người lao động.
Trong khuôn khổ hợp tác phát triển Đức, GTZ giúp đỡ các công ty Việt nam đáp ứng các yêu cầu theo các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội. Để có thể đạt được các kết quả tốt nhất, chúng tôi đã hợp lực với các đối tác kinh doanh quốc tế đang là bạn hàng của các nhà cung ứng trong nước. Như đã nói ở trên, một trong những vấn đề quan tâm của các bạn hàng quốc tế là giúp các nhà cung ứng nội địa cải thiện hoạt động trong các vấn đề nói trên. Trong chương trình hợp tác giữa nhà nước và khối tư nhân (Public Private Partnership - PPP), chúng tôi cùng lập kế hoạch và đồng tài trợ với các công ty quốc tế đang cải thiện các tiêu chuẩn môi trường và xã hội trong chuỗi cung ứng của mình.
Hai ví dụ thành công của các chương trình PPP cho thấy rằng bằng cách hợp sức và làm việc chặt chẽ với các đối tác là các công ty quốc tê, các công ty trong nước đã có khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn của bạn hàng tốt hơn nhiều. Và như vậy, họ có thể cải thiện khả năng cạnh tranh của mình so với các nhà sản xuất cùng ngành khác hoặc là có thể mở ra những phân đoạn thị trường mới cho các sản phẩm được chứng nhận của mình.
Ví dụ 1: PPP về Trách nhiệm Xã hội với Hiệp hội các nhà bán lẻ Đức (AVE)
Cùng với Hiệp hội ngoại thương của các nhà bán lẻ Đức (AVE), GTZ đang giúp đỡ các nhà cung ứng trong nước ở các ngành như may mặc, da giầy, đồ chơi cải thiện điều kiện làm việc tại các cơ sở sản xuất.
Mô hình theo ngành của AVE về trách nhiệm xã hội được dựa trên ‘Tuyên bố của AVE về Bộ qui tắc ứng xử trong việc thu mua hàng hoá để đảm bảo các tiêu chuẩn xã hội’. Trong tuyên bố này, nhiều công ty thành viên của AVE đã cam kết sẽ đưa việc tuân thủ các tiêu chuẩn làm việc cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thành một phần trong hợp đông với các nhà cung ứng của mình. Việc này sẽ đảm bảo tạo ra những điều kiện làm việc thích hợp trong các nhà máy của các nhà cung ứng, đặc biệt là là ở các nước đang phát triển và các nước công nghiệp mới. Sự trợ giúp của các hội viên AVE cho các nhà cung ứng của mình bao gồm từ việc kiểm soát thực hiện các hoạt động khắc phục đến các biện pháp tạo nhận thức và các biện pháp huấn luyện tích cực.
Việc kiểm soát một cách minh bạch và độc lập các điều kiện làm việc dựa trên một số công cụ nhất định do AVE cung cấp sẽ đạt được thông qua hoạt động đánh giá các cơ sở sản xuất bởi một công ty đánh giá bên ngoài. Các công ty này đều được công nhận bởi một tổ chức phi chính phủ có trụ sở đặt tại New York có tên gọi là tổ chức Trách nhiệm Xã hội Quốc tế (Social Accountability International - SAI). Tổ chức này đã phát triển tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội SA 8000, một tiêu chuẩn đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Mô hình theo ngành của AVE tuân thủ theo tiêu chuẩn SA 8000 bằng cách diễn giải và áp dụng tiêu chuẩn này từ khía cạnh chính sách phát triển. Trong phạm vi kế hoạch khắc phục đã được công ty đánh giá và nhà cung ứng ghi nhận, các điểm sai lệch sẽ được loại bỏ.
Việc khắc phục được thực hiện với sự giúp đỡ của các công ty thành viên AVE hoặc các công ty cung cấp dịch vụ do các công ty này mời cũng như mạng luới đã có ở quốc gia của nhà cung ứng hoặc có thể được thiết lập trong giai đoạn đầu của quá trình theo dõi. Như vậy, vấn đề trách nhiệm xã hội của các nhà cung ứng sẽ được xây dựng và hoàn thiện. Việc tuân thủ thoả thuận được ghi trong kế hoạch khắc phục sẽ được theo dõi trong khuôn khổ của các hoạt động đánh giá lại. Các nhà cung ứng sẽ được AVE cho biết là họ có thoả mãn các yêu cầu của mô hình trách nhiệm xã hội của AVE hay không. Về phần mình các nhà cung ứng sẽ tự quyết định xem họ có muốn được chứng nhận theo SA 8000 hay không, điều mà các bạn hàng nước ngoài trong trương trình của AVE muốn khuyến nghị khi hệ thống của các nhà cung ứng đã chín muồi để chứng nhận. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, chứng nhận theo SA 8000 không phải là điều kiện tiên quyết để các công ty thành viên AVE quyết định xem có hợp tác hay duy trì mối quan hệ thương mại hay không.
Song song với các hoạt động ở mức độ doanh nghiệp do các hội viên AVE và các nhà cung ứng của họ thực hiện, GTZ đang sử dụng Sáng kiên Liên kết Doanh nghiệp (Vietnamese Business Links Initiative) thuộc VCCI để thiết lập các hội nghị bàn tròn về các tiêu chuẩn xã hội. Thành viên của những hội nghị bàn tròn này là những cơ quan chức năng của nhà nước, công đoàn, các tổ chức phi chính phủ và các hiệp hội ngành nghề. Mục tiêu chính của các hội nghị bàn tròn này là :
-
Tăng cường trao đổi và liên kết giữa các bên quan tâm khác nhau và phát triển một mối quan hệ lâu dài mang tính xây dựng giữa các bên
-
Thiết lập đối thoại và trao đổi quan điểm một cách liên tục về các chủ đề liên quan đến tiêu chuẩn xã hội giữa các bên quan tâm khác nhau và
-
Cùng phát triển các giải pháp mang tính xây dựng và hiệu quả hơn để áp dụng các tiêu chuẩn xã hội
Ví dụ 2: PPP về các sản phẩm thuỷ sản hữu cơ với Binca Seafood và Naturland
Tiêu chuẩn của người mua (các nhà nhập khẩu) trong phân đoạn thị trường
Xem xét các trường hợp điển hình trong các tài liệu về chuỗi giá trị gia tăng, ta thấy các công ty đa quốc gia đóng một vai trò chủ đạo. Điều đó đúng bởi vì đó là những công ty bán lẻ quốc tế lớn, siêu thị, các công ty công nghiêp và thương mại đang lãnh đạo nếu không nói là đang chi phối phần lớn các chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Trở thành một phần trong các chuối giá trị này là chiến lược quan trọng của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia đang phát triển. Điều đó là do các tổ chức quốc tế - trong nỗ lực hỗ trợ các DNNVVN ở các quốc gia đang phát triển - cố gắng tạo quan hệ hợp tác với các công ty hàng đầu trong các chuỗi giá trị gia tăng khác nhau. Như đã nhắc tới, GTZ hiện đang tham gia đối tác một cách thành công với nhiều công ty hàng đầu, lấy được sự đóng góp của họ – đôi khi bằng tiền, đôi khi bằng những thứ khác- để giúp đỡ các công ty địa phương và bạn hàng.
Tuy nhiên, còn có rất nhiều phân đoạn thị trường nhỏ với nhiều công ty nước ngoài nhỏ hơn cũng đang xây dựng mạng lưới sản xuất và buôn bán của mình, tức là đang “quản lý chuỗi giá trị của mình”, và giúp các công ty vừa và nhỏ địa phương trở thành một phần hoặc giúp họ cải thiện vị trí trong một chuỗi giá trị gia tăng cụ thể. Các phân đoạn thị trường nhỏ này cung cấp cho các công ty địa phương những cơ hội làm ăn cũng hấp dẫn như là các cơ hội mà các công ty lớn có thể mang lại.
Các đối tác của dự án và động cơ của họ
Binca Seafood GmbH là nhà nhập khẩu hàng thuỷ sản của Đức. Là một công ty khá nhỏ, Binca nhập khẩu các mặt hàng thuỷ sản đông lạnh từ châu Á và bán chúng ở châu Âu. Đối với công ty, cá với nguồn gốc hữu cơ ( thực phẩm sạch) là một thị trường đang phát triển và đáng để đầu tư.
Naturland e.V. là một tổ chức phi chính phủ của Đức được thành lập từ năm 1982 để quảng bá hoạt động sản xuất thực phẩm hữu cơ được chứng nhận. Hoạt động chính của họ là phát triển các tiêu chuẩn và hệ thống chứng nhận cho các sản phẩm đạt yêu cầu. Do vậy họ có mối quan tâm đặc biệt tới việc phát triển các chuỗi giá trị từ các mặt hàng thực phẩm hữu cơ mới.
Các đối tác địa phương là những đơn vị nuôi trồng và chế biến cá tra/basa nhỏ. Trong khuôn khổ của hiệp hội thuỷ sản An Giang ở Đồng bằng sông Cửu long, họ rất nhiệt tình để mở ra các thị trường xuất khẩu mới. Với họ, cá tra/basa hữu cơ, đáp ứng các yêu cầu khắt khe về môi trường, là một cơ hội quí khi thị trường truyền thống đang bị đe doạ bởi các biện pháp bảo hộ và các vụ tai tiếng liên quan đến an toàn thực phẩm.
GTZ làm việc với sự uỷ quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và phát triển Đức (BMZ). Trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Viêt Nam đồng thời bảo vệ môi trường thông qua việc giới thiệu các phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường là một trong những mối quan tâm chính của GTZ.
Chuyển giao know-how để đáp ứng tiêu chuẩn người mua
Mục tiêu chính của dự án là phát triển và thiết lập việc sản xuất cá hữu cơ với một nhóm thí điểm các nhà sản xuất và chế biến của Việt Nam. Tất cả các doanh nghiệp địa phương đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi vì điều đó sẽ dễ hơn cho Binca và Naturland khi làm việc với họ và phát triển chuỗi giá trị trong phân đoạn thị trường hẹp này và xây dựng những mối quan hệ bạn hàng ổn định và vững chắc. Ở bước đầu tiên của dự án, tài liệu hướng dẫn để sản xuất cá hữu cơ được phát triển và thống nhất với các cơ quan Việt Nam. Ở đây, Naturland là đơn vị tư vấn chính cho dự án dựa trên kinh nghiệm của họ với những chuỗi giá trị tương tự. Sau đó, một dự án thử nghiệm được triển khai để thay đổi cách quản lý sản xuất từ phương pháp truyền thống sang cách sản xuất hữu cơ. Để giúp cho các công ty vừa và nhỏ trong nước áp dụng các tiêu chuẩn hữu cơ, cả Binca Seafood và Naturland đã hỗ trợ nhiệt tình thông qua sự trợ giúp của công ty tư vấn Việt nam và các cơ quan khác. Bằng cách lôi kéo các đối tác địa phương, việc chuyển giao bí quyết từ Binca và Naturland đã được thực hiện không chỉ với các bạn hàng liên quan mà còn tới những đơn vị cung cấp các dịch vụ phát triển kinh doanh quan trọng. Do vậy, cơ sở để có thể nhân rộng mô hình sản xuất hữu cơ tới những đơn vi sản xuất và chế biến khác đã được thiết lập.
Việc đánh giá được một công ty Thái Lan thực hiện đã giảm nhiều các chi phí chứng nhận và xây dựng know-how về chứng nhận sản xuất hữu cơ trong khu vực.
Vì sản xuất các mặt hàng nông sản hữu cơ ở Việt Nam chỉ mới ở qui mô rất nhỏ, các đối tác đã phải rất vất vả để tìm được các nhà cung ứng thức ăn chăn nuôi hữu cơ. Đây là bước khởi điểm đầu tiên trong chuỗi giá trị các mặt hàng thuỷ sản hữu cơ và là một khâu còn yếu trong chuỗi giá trị ở thời điểm hiện tại vì một phần thức ăn cho cá phải nhập từ các nước láng giềng, do vậy đã tăng chi phí sản xuất. Trong tương lai, một vấn đề quan trọng là các đối tác phải tiếp tục giúp đỡ những nhà sản xuất thức ăn gia súc địa phương để họ tuân thủ được các yêu cầu kỹ thuật chặt chẽ của việc sản xuất hữu cơ.
Khi cá hữu cơ đã được nuôi, các nhà chế biến địa phương sẽ được Binca đào tạo và nâng cao năng lực để hoàn thiện các quá trình chế biến và cải tiến các kỹ thuật đóng gói. Làm như vậy, giá trị sẽ được gia tăng nhiều hơn ở Việt Nam và tăng lợi nhuận cho các nhà chế biến trong nước đồng thời duy trì giá thành sản phẩm cuối cùng ở mức cạnh tranh được.
Cuối cùng, tất cả các công ty tham gia vào dự án sẽ phụ thuộc vào sự thành công của các nỗ lực marketing từ phía nhà nhập khẩu thuỷ sản Đức. Do đó, ngay ở những giai đoạn đầu của dự án, các nỗ lực đã được thực hiện ở giai đoạn cuối của chuỗi giá trị thương mại. Dự án và các sản phẩm mới tiềm năng đã được giới thiệu ở các triển lãm thương mại cũng như thông qua các kênh marketing khác.
Như vậy, phương pháp tiếp cận ở đây là giải quyết vấn đề ở tất cả các bước trong chuỗi giá trị gia tăng và các yêu cầu cụ thể ở mỗi công đoạn, từ các nhà cung ứng thức ăn chăn nuôi đến người tiêu dùng cuối cùng. Về phương diện phát triển, điều quan trọng là dự án giúp các DNVVN địa phương nâng cao mình lên trong chuỗi giá trị. Việc cải thiện này được thực hiện thông qua áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ khác nhau, cải tiến quá trình sản xuất cũng như bao gói. Điều đó sẽ dẫn đến một giá cả tốt hơn cho sản phẩm cũng như sẽ mở ra các cơ hội mới trên thị trường.
Kết luận
Tóm lại, việc thoả mãn các tiêu chuẩn của người mua đang tạo ra sức ép cho cả các công ty quôc tế và các nhà cung ứng trong nước. Trong khát vọng duy trì và thậm chí mở rộng thị trường, ngoài những việc khác, các nhà cung ứng trong nước cần:
Thiết lập mối quan hệ thương mại gần gũi và lâu dài với khách hàng.
Cùng cộng tác về các vấn đề liên quan đến chất lượng, môi trường và các yêu cầu xã hội.
Phát triển các qui định chung trong lĩnh vực của mình, giảm các chi phí về lâu dài và tăng cường tính minh bạch.
Tận dụng các nhãn về chất lượng, môi trường và xã hội để cạnh tranh tốt hơn so với các nhà cung ứng từ các nước xuất khẩu cạnh tranh.
Tham gia các sáng kiến như trong những ví dụ đã được nhắc tới để tận dụng kinh nghiệm và các quĩ hộ trợ quốc tế.
Các tổ chức hỗ trợ như cơ quan nhà nước, hiệp hội doanh nghiệp cần chú ý tới việc cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi để thúc đẩy việc áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội. Năng lực công nhận và chứng nhận trong nước cũng cần củng cố và đẩy mạnh, và các nhà cung cấp dịch vụ kinh doanh cần phát triển các sản phẩm đào tạo và tư vấn cho phù hợp và thoả mãn nhu cầu của doanh nghiệp.
Mr. Thomas Finkel, Cố vấn Kỹ thuật GTZ