|
|
|
Tri thức - động lực phát triển trong thế kỷ 21 | Vai trò của tri thức đối với sự phát triển
Phát triển là một quá trình qua đó con người trở nên ý thức được các cơ hội và thách thức, hình thành nên các phản ứng, đưa ra các quyết định và khởi xướng ra các hoạt động có tổ chức. Qúa trình này tuân theo một trình tự từ tri thức tới cảm hứng rồi tới hành động. Con người tiếp nhận tri thức, qua đó họ nhận thức được các cơ hội và thách thức. Khi tri thức đó đạt đến một mức nhất định (chín mùi), họ có động lực hay cảm hứng để chuyển tri thức đó thành hành động. Không quan trọng cơ hội lớn như thế nào hay sự cần thiết cấp bách ra sao, nếu không có tri thức đó thì chẳng có phản ứng thích hợp nào xảy ra. Tri thức là nền tảng cho mỗi bước trong quá trình phát triển. Nó cần cho việc tạo ra sự nhận thức về các cơ hội và thách thức, đánh giá thích hợp các thay đổi, tạo ra các phản ứng, lập kế hoạch hiệu quả, đưa ra các sáng kiến và thực hiện các sáng kiến này.
Tốc độ và mức độ phát triển phụ thuộc vào sự sẵn có của nguyên vật liệu, nguồn lực tài chính và công nghệ, nhưng về cốt lõi, sự phát triển là một quá trình liên quan đến con người, được xác định thông qua phản ứng của con người đối với môi trường xung quanh.
Tri thức đóng góp cho sự phát triển theo nhiều cách khác nhau: như nguồn lực sản xuất, như đầu vào chính yếu cho giáo dục, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ; như chất xúc tác cho thay đổi xã hội và phát triển kinh tế; và như nền tảng của sự văn minh và các giá trị văn hoá thúc đẩy sự hài hoà xã hội.
Vào những thời kỳ đầu, tài nguyên đất và khoáng sản đã tạo nên nguồn lực chính cho phát triển. Công nghệ hết sức sơ khai. Con người được định giá chủ yếu theo giá trị sức lao động cơ bắp của họ. Ngày nay, thông tin và tri thức đã và đang trở thành những đầu vào quan trọng của quá trình phát triển. Tất cả các hoạt động kinh tế ngày càng sử dụng nhiều tri thức. Để thành công, các lĩnh vực sản xuất công nghiệp hiện đại phụ thuộc ngày càng nhiều vào việc quản lý thông tin liên quan đến chất lượng, chi phí và việc lập kế hoạch cũng như chúng phụ thuộc vào việc quản lý các quá trình sản xuất. Lĩnh vực dịch vụ là lĩnh vực có tiềm năng to lớn về tạo việc làm và phát triển kinh tế trong nền kinh tế thế giới nhưng dịch vụ cũng là lĩnh vực dựa chủ yếu vào tri thức. Sự phát triển phi thường của việc làm tại Mỹ là do sự bành chướng nhanh chóng của lĩnh vực dịch vụ. Bốn lĩnh vực dịch vụ quan trọng nhất là: tài chính, bảo hiểm, y tế và giáo dục cũng là những lĩnh vực sử dụng nhiều đến tri thức.
Sự chuyển dịch từ nguồn lực là nguyên vật liệu tới nguồn lực dựa vào tri thức đang mở ra những cơ hội vô cùng to lớn cho các nước đang phát triển để gia tốc sự phát triển của mình. Các đặc tính của tri thức khác rất lớn so với đặc tính của các nguồn lực tài chính và nguyên vật liệu. Tri thức thì gia tăng vì nó được chia sẻ chứ không bị tiêu tốn. Tri thức không bị mất đi khi nó được cho không. Tri thức hoàn toàn có thể di chuyển với tốc độ cao và với chi phí thấp.
Sự phát triển phụ thuộc vào 3 quá trình tri thức:
-
Quá trình tim kiếm, kiến tạo và tiếp nhận tri thức thông qua các phát kiến khoa học, nghiên cứu & triển khai và chuyển giao công nghệ.
-
Quá trình quảng bá, chia sẻ tri thức thông qua các kênh chính thống và không chính thống từ những người phát triển/kiến tạo tri thức tới những người chịu trách nhiệm áp dụng tri thức trong xã hội.
-
Quá trình ứng dụng tri thức thông qua hoạt động chuyên môn trong các lĩnh vực, nhà máy, lớp học, bệnh viện và các lĩnh vực hoạt động khác để đạt được các kết quả thực tiễn.
“Tri thức” thường được hiểu như là một khả năng hành động hiệu quả.
Một hành động là “hiệu quả” nếu kết quả của nó gần với những gì mong đợi. Đối với các doanh nghiệp, kết quả mong đợi là giá trị thị trường, còn đối với các cơ quan quản lý nhà nước thì đó là các giá trị xã hội. Các hành động tạo ra giá trị được tổ chức thông qua các quá trình kinh doanh hay các quá trình tác nghiệp (Hình 1).
Hình 1: Tri thức tạo ra giá trị thông qua các quá trình tác nghiệp hay kinh doanh

“Thu nhập bình quân của 20 nước giàu nhất cao gấp 37 lần so với 20 nước nghèo nhất. Tỷ lệ này đã tăng nhanh gấp hai lần trong vòng 40 năm qua. Lý do chủ yếu là do không có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể tại các nước nghèo do thiếu vốn, thiếu các nguồn lực phát triển cần thiết, đặc biệt là tri thức khoa học và công nghệ” - Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) năm 2003.
Một dàn khoan dầu thông minh có thể “nhận biết được” hình dạng của bể trầm tích đang khoan, cũng như chiếc ô tô thông minh với các hệ thống kiểm soát động cơ có thể giám sát được hoạt động của các bộ phận chính và “biết được” khi nào chúng cần được bảo dưỡng hoặc chỉ đường cho lái xe. Đó chỉ là một vài ví dụ trong vô số các ví dụ cụ thể về tri thức có thể nâng cao giá trị của một sản phẩm dưới con mắt khách hàng mà chúng ta gặp ngày càng nhiều trong cuộc sống hiện tại và tương lai. Tri thức còn góp phần không nhỏ vào cải tiến các quá trình của doanh nghiệp. Có nhiều cá nhân và tổ chức nhìn bề ngoài đều thực hiện cùng một quá trình nhưng mức độ và hiệu quả hoạt động lại hoàn toàn khác nhau. Chính tri thức “tiềm ẩn” của một cá nhân có kinh nghiệm đã tạo ra sự khác biệt đó. Giá trị của tri thức còn được thể hiện trong các sản phẩm của một tổ chức, hay vốn trí tuệ của tổ chức đó (như bằng sáng chế, chứng chỉ), con người (tài sản con người) và các quá trình (vốn cơ cấu). Điều này càng trở nên rõ ràng hơn khi giá trị của công ty không chỉ được tính toán đơn thuần trên sổ sách theo các phép đo truyền thống trên cơ sở so sánh với các giá trị của thị trường mà còn phải tính đến quan điểm của thương trường đối với các giá trị vô hình nằm ngoài phạm vi hoạt động kế toán. Đối với các công ty công nghệ cao (như Microsoft) hay các công ty có trình độ tri thức cao (như các công ty công nghệ sinh học) thì yếu tố này còn quan trọng gấp nhiều lần.
Đóng góp của tri thức trong nền kinh tế Việt Nam
Việt Nam hiện vẫn đang còn là một quốc gia chậm phát triển. Sức cạnh tranh của cả nền kinh tế cũng như của các doanh nghiệp còn rất thấp so với các nền kinh tế khác trên thế giới, thậm chí với cả các nền kinh tế khu vực. Theo kết quả đánh giá về sức cạnh tranh của các nền kinh tế thế giới do Diễn đàn kinh tế thế giới tiến hành và công bố, Việt Nam đứng thứ 74 trên tổng số 117 nền kinh tế vào năm 2005 và đứng thứ 77 trong tổng số 125 nền kinh tế vào năm 2006. Cũng theo đánh giá này, Việt Nam đứng ở hạng cuối bảng trong số 8 nước khu vực (xem bảng 1). Bản đánh giá cũng cho thấy một số chỉ số của Việt Nam tốt hơn so với các nước khác, ví dụ đối với kinh tế vĩ mô, trong năm 2006, các chỉ số về y tế, giáo dục tiểu học ta đứng ở các thứ hạng 53, 56 tương ứng so với 125 nền kinh tế nhưng chỉ đứng ở vị trí 96 và 90 về các chỉ số đổi mới công nghệ và giáo dục đại học. Điều đáng lưu ý ở đây là hầu hết các chỉ số có thứ hạng thấp đều liên quan đến việc hấp thụ hay kiến tạo tri thức.
Bảng 1: Xếp hạng chỉ số cạnh tranh của Việt Nam và 8 nước khu vực so với 125 nền kinh tế thế giới năm 2006.

Đóng góp của tri thức vào sự phát triển kinh tế Việt Nam còn rất hạn chế. Sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu do các yếu tố vốn và lao động tao nên. Trong những năm 1990-2001, chỉ số năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), kể cả tri thức/công nghệ, chỉ chiếm khoảng 6% trong thành phần của năng suất quốc gia. Tỷ trọng này thậm trí còn giảm đi trong những năm từ 2001 đến 2004. Hầu hết các công nghệ và thiết bị hiện đang áp dụng và khai thác tại các doanh nghiệp đều rất lạc hậu. Năng lực công nghệ của doanh nghiệp rất thấp nhưng đầu tư vào hoạt động nghiên cứu triển khai lại chưa được coi trọng. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, mức phát triển của Việt Nam theo hướng nền kinh tế tri thức là rất chậm. Việt Nam xếp ở vị trí 91 về Chỉ số kinh tế tri thức (KEI) trong tổng số 128 nước khảo sát (xem Bảng 2).
Bảng 2- Các chỉ số tri thức của Việt Nam so với 8 nước trong khu vực

Hiểu rất rõ vai trò của tri thức đối với sự phát triển của đất nước nên Đại hội 9 của Đảng đã xác định đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, 50% GDP do tri thức tạo ra.
Thay cho lời kết
Con người và những tri thức, ý tưởng mà con người sở hữu có giá trị vô cùng to lớn đối với sự phát triển của một quốc gia. Chúng ta thấy rằng, kinh doanh không chỉ đơn thuần là cạnh tranh, vì cạnh tranh có thể bị vô hiệu hoá bởi khả năng và sự sáng tạo vô hạn của con người. Sáng tạo và cải tiến giá trị chính là công cụ mạnh nhất để họ cạnh tranh trong tương lai.
Cuộc cạnh tranh sắp tới sẽ là cuộc chạy đua trong sáng tạo để tạo ra những giá trị mới và gia tăng giá trị cho khách hàng, cho chính bản thân doanh nghiệp và là cuộc chạy đua của tốc độ tiếp thu những ý tưởng mới. Cá nhân, doanh nghiệp hay quốc gia nào nắm bắt và thấu hiểu và tuân theo quy luật ấy sẽ là người chiến thắng trong tương lai.
Vũ Hồng Dân
Trưởng phòng Nghiên cứu Năng suất
Trung tâm Năng suất Việt Nam
Nguồn:
Bài viết cho Diễn dàn Năng suất Chất lượng của Trung tâm Nắng suất Việt Nam Giảm lãng phí nguyên vật liệu, phát triển bền vững với MFCA MFCA là viết tắt của Material Flow Cost Accounting, là một phương pháp quản lý môi trường (environmental management method) nguyên bản được phát triển tại Đức nhưng đã được ứng dụng rộng rãi tại Nhật Bản trở thành một công cụ quản lý cực kỳ hiệu quả trong việc giảm thiểu lãng phí nguyên vật liệu và năng lượng trong quá trình sản xuất, nâng cao năng suất, tăng lợi nhuận, đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững. Quản lý chuỗi cung ứng – con đường tới thành công của gã khổng lồ BOEING Để có thể thành công trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu như hiện nay, ngày càng nhiều các công ty phải phụ thuộc vào các nhà cung ứng và mong đợi họ là có được những nhà cung ứng hàng đầu về chất lượng, giá cả và giao hàng. Biểu đồ nhân quả Năm 1953, Giáo sư người Nhật Ishikawa đã khái quát quan điểm, ý kiến của các kỹ sư tại một nhà máy đóng tàu dưới dạng một biểu đồ nhân – quả. Khi biểu đồ này được đưa vào sử dụng trong thực tế, nó đã chứng minh được sự hữu ích và sớm phổ biến rộng rãi tại nhiều công ty Nhật Bản và ngày nay đã được áp dụng tại nhiều nơi trên toàn thế giới. Bài đã đăng: Nâng cao năng suất lao động thông qua tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nâng cao năng suất lao động có thể đạt được thông qua Tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh, tái cơ cấu doanh nghiệp. Thực tế cho thấy Tái cơ cấu hoạt động có thể áp dụng được cho các đơn vị sản xuất, cung cấp dịch vụ và quản lý hành chính. Thực hiện thành công Tái cơ cấu đòi hỏi doanh nghiệp, đơn vị phải thay đổi mạnh mẽ nhận thức, quan niệm và nên tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh trước khi điều chỉnh tổ chức, nguồn vốn, nhân sự.
Chiến lược sản phẩm của traphaco trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới Trong nhiều năm qua, Công ty Cổ phần TRAPHACO được biết đến như là một doanh nghiệp đa dạng về sản phẩm, chiếm thị phần lớn trên thị trường, có nhiều sản phẩm độc đáo được người tiêu dùng tin cậy. Để có những kết quả kinh doanh thật ấn tượng: tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt trung bình hàng năm từ 30-35%, Thươnghiệu Việt Nam được bình chọn trong top 100 thương hiệu dẫn đầu Hàng Việt Nam chất lượng cao và top 100 thương hiệu đứng đầu Sao Vàng đất Việt, thương hiệu nổi tiếng; TRAPHACO đã xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh tổng thể, toàn diện và trên nhiều khía cạnh. Trong đó, sự thành công trong việc triển khai các sản phẩm TRAPHACO đã góp phần mạnh mẽ xây dựng dấu ấn thương hiệu. Phong trào Năng suất và năng lực cạnh tranh: kinh nghiệm của Singapore Tất cả các cuộc marathon trên thế giới đều được thiết kế để thử nghiệm sự bền bỉ của các vận động viên và để giành chiến thắng. Qua các quãng đường bằng phẳng thì chắc chắn sẽ có các quãng đường đồi dốc. Một người vận động viên giỏi là người biết được nếu như muốn giành chiến thắng thì mình không thể duy trì cùng một tốc độ trên cả chặng đường chạy Văn hóa Phương Đông và quản lý hiện đại Quản lý chất lượng nói riêng và quản lý nói chung là một hoạt động gắn với mọi chế độ xã hội, cho các đối tượng khác nhau. Hình thức quản lý ngày nay rõ ràng khác với những gì đã được thực thi các đây hàng ngàn năm. Tuy nhiên, chắc chắn sẽ có những điểm tương đồng giữa các hình thức quản lý. Trong bài này, chúng tôi muốn liên hệ một số nguyên tắc và phương pháp quản lý của phương Đông cổ đại, chủ yếu là Khổng Tử với quản lý hiện đại, cũng là một “ôn cố tri tân”, qua đó đặt vấn đề về cách quản lý ở các tổ chức tại Việt Nam. Tư tưởng của Khổng Tử là một biển rộng bao la, trình độ người viết lại quá thô thiển, khuôn khổ bài báo và thời gian chuẩn bị lại hạn chế, chắc chắn chỉ nêu được một phần rất nhỏ và không khỏi chắp vá. Rất mong bạn đọc lượng thứ. Nếu như tạo được một sự quan tâm nào đó đối với văn hoá phương đông khi xây dựng các hệ thống quản lý thì đó là mong muốn của người viết. Thách thức cho việc áp dụng Kaizen cho toàn công ty Trong một môi trường xã hội luôn thay đổi như thế, những xí nghiệp và các tổ chức hoạt động kinh doanh buộc phải tự thay đổi. Họ phải linh hoạt trong việc điều chỉnh phương thức quản lí kiểu truyền thống lạc hậu trước đây để đáp ứng những biến đổi của môi trường quản lí và để phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng . | |
|
|
|
|
Lịch đào tạo tháng 03 năm 2012 tại TP. Hồ Chí Minh | Hà Nội, 20-24/02/2012: Chuyên gia đánh giá trưởng hệ thống quản lý chất lượng | Hà Nội, ngày 17/02/2012: P&Q16 với chủ đề “Đổi mới hệ thống quản trị - Cơ hội để phát triển doanh nghiệp” | Hà Nội, Ngày 08-10/02/2012: Đánh giá viên nội bộ HTQLCL ISO 9001:2008 | Lịch đào tạo tháng 02, 03 năm 2012 tại Hà Nội |
|
|
|